Gặp người giữ lữa cho nghề rèn ở những ngày đầu xuân
Ngày đưa:  13/02/2018 09:21:41 AM In bài
(Ông Tĩnh đang hoàn thiện sản phẩm của mình)
Tồn tại và phát triển gần 30 năm qua, lò rèn của ông Nguyễn Đắc Tĩnh, xã Bình Thanh Tây, huyện Bình Sơn đã tạo nên một thương hiệu riêng, là niềm tự hào của gia đình và mọi người.

 Trong những ngày cuối năm, mọi người tất bật với việc mua sắm, trang trí nhà cửa để đón cái tết ấm áp bên gia đình, thế nhưng vẫn như mọi ngày ông     Tĩnh vẫn miệt mài với tiếng đe búa chát chúa của mình.

Dừng lại giây lác, sau khi đã hoàn thiện một sản phẩm để tiếp chuyện tôi, ông Tĩnh cho hay, ông gắng bó với cái nghề này đã hơn 30 năm, trãi qua nhiều địa phương, cuối cùng ông chọn mãnh đất tại địa phận xã Bình Thanh Tây, huyện Bình Sơn để thực hiện hoài bảo “giữ lửa” cho cái nghề rèn của mình.

Cái nghề này tưởng chừng như bị “mai một” trước sự phát triển của công nghiệp với các sản phẩm kim loại đa dạng, phong phú như dao, rựa, cuốc, xẻng … đã được thiết kế khác đi với nhiều mẫu mã khác nhau, được bày bán với giá rất mềm ngoài thị trường. Tuy nhiên, với người dân lao động thì những sản phẩm được làm thủ công mặc dù xù xì, thô kệch không đẹp, bóng bộ bằng đồ sản xuất công nghiệp nhưng đáp ứng được sức dẻo dai, bền chắc phù hợp với đặc tính lao động cần cù của người nông dân nông thôn nên nó vẫn gắn bó nhiều hơn với họ.

Ông Nguyễn Hòa, xã Bình Hòa, huyện Bình Sơn cho biết: tôi ở xã kế bên nhưng từ ngày có lò rèn này thì mọi nông cụ và vật dụng của tôi khi đã cũ điều đến đây nhờ ông Tĩnh rèn lại. Tôi đã đi rèn ở nhiều nơi nhưng không chỗ nào rèn bền, bén như ở đây. Ông cho biết thêm: Ngày nay các loại nông cụ nói riêng và đồ dùng phục vụ cho lao động sản xuất nói chung được bày bán nhiều ở chợ, siêu thị, khi mua về dùng không được lâu, không còn sắc bén cũng rất khó mài. Vì vậy, đa phần người dân chúng tôi vẫn dùng dao, rựa thủ công vì độ sắc bén, bền và chịu lực tốt của chúng. Một khi dao không còn sắc thì có thể mài nhẹ là lại dùng được ngay.

Chị Xuân, một người dân địa phương đang cầm cái liềm trên tay với vẻ mặt hài lòng sau khi chọn được sản phẩm mình ưng ý, chị cho biết: mặc dù là thời buổi công nghiệp hóa nhưng chúng tôi vẫn chưa thoát ly được cái này chú à, vẫn sử dụng nó để cắt cỏ trồng cho bò ăn, cắt rau nuôi lợn, cắt dọn bờ ruộng sau sạ để phòng trừ sau bệnh và chuột phá hoại mùa màng.

Trong căn lều bé nhỏ chỉ vài mét vuông được dựng sát ngôi nhà cấp 4 nơi trú ngụ của gia đình ông, tiếng búa, tiếng đe vang lên nghe chan chát. Với những thao tác nhanh, gọn, chính xác từng centimet, ông đưa thanh sắt vào nung đỏ, tiếp đó với bàn đe rắn chắc ông lại nâng búa đập liên tục xuống miếng sắt đã nung đỏ đặt trên đe theo một nhịp điệu mạnh – nhẹ mà chỉ có người trong nghề mới am hiểu. Màu lửa vàng rực rỡ từ lò rèn ánh lên những giọt mồ hôi đang loang lỗ trên khuôn mặt của ông Tĩnh. Mặc dù thời tiếc những ngày này đang se lạnh nhưng người ông mồ hôi nhễ nhại sau khi một mình ông vẫn hoàn thiện được sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.

 Theo lời ông Tĩnh, vào những năm trước đây, nghề rèn là cần câu cơm của nhiều hộ gia đình. Khi máy móc công nghiệp dần thay những nhát búa, tiếng đe nhiều người đã bỏ nghề vì nhiều lý do khác nhau. Tuy nhiên, với quyết tâm gìn giữ nghề truyền thống của gia đình, cộng với nhu cầu rất cao của nông dân nên ông vẫn quyết giữ lữa cho cái nghề biến sắt vụn thành công cụ lao động.

Ông chỉ vào kho hàng của mình với ngổn ngang đồ đạt nào là mãnh bom, nhíp se, sắt vụn, than củi, tre, gỗ … cười nói: những thứ cứ nghĩ bỏ đi kia nhưng nó điều có giá trị của nó khi đặt đúng vào vị trí của nó đó cháu à. Vừa nói chuyện nhưng tay, mắt ông không lúc nào rời khỏi bếp lữa, nơi ông đan thui các thanh sắt để gia công thành những sản phẩm hữu ích cho đời. Đưa tay quệt mồi hôi, ông vui kể: có một lần tôi được khách du lịch nước ngoài ghé thăm, sau khi thấy tôi đang hì hục đập gõ những thanh sắt đang nung đỏ hỏn trên trái bom này họ thất kinh nhưng được tôi ra hiệu là nó chỉ là cái vỏ họ mới yên tâm ngồi xem tôi chế tác.

 Được biết, với những thanh sắt phế liệu kia, muốn ra được sản phẩm hoàn hảo thì ít nhất phải mất từ nửa ngày trở lên tùy theo loại và nhu cầu của khách nhưng giá bán chỉ nhích hơn đồ ngoài chợ từ 10 - 20 ngàn đồng một sản phẩm. Sau khi trừ chi phí tiền sắt, tiền than, tiền cán dao thì còn dư không là bao. Tuy nhiên, không phải ngày nào cũng có nhiều người đến đặt hàng để làm thường xuyên nên thu nhập không ổn định, cuộc sống rất vất vả, khó khăn. Một số sản phẩm làm từ nhíp xe như quốc vố, rựa bờ cần sức trẻ ông phải nhờ cậu con trai để hỗ trợ.

Theo ông Tĩnh, để làm ra một sản phẩm, người thợ rèn phải trải qua nhiều công đoạn. Từ cắt sắt tạo hình, nung, đập, nhúng nước rồi lại nung, đập cho tới khi định hình được sản phẩm, mài cho sắc và làm tay cầm. Khâu nào cũng quan trọng, nhưng quan trọng nhất là nước tôi phải bền, nếu tôi non hay già quá thì nhất định sản phẩm làm ra sẽ không thể đạt chất lượng tốt nhất. Do vậy nghề này đòi hỏi người thợ đó phải khỏe, phải kiên trì, tỉ mỉ mà đặc biệt là yêu nghề thì mới làm ra sản phẩm rèn đạt chất lượng cao.

Ngày tết Nguyên đán Mậu Tuất đang cận kề nhưng lò rèn của ông Nguyễn KhắcTĩnh vẫn luôn đỏ lữa tấp nập người ra vô trong những ngày này là bởi người làm thợ rèn nay đã ngày càng ít đi nhưng người dân quê vẫn có thói quen dùng nông cụ phục vụ cho vụ sản xuất Đông Xuân, đồng thời sắm sanh, rèn giũa lại các dụng cụ làm bếp để chuẩn bị các bữa tiệc cuối năm thêm phần ấm áp./.

                                                                                                         VP


Bản quyền ©2014 Cổng thông tin điện tử Huyện Bình Sơn-Quảng Ngãi